|
Thường Chiếu là
tên Phật sự, huy hiệu mang ý nghĩa sau:
-
Bàn tay cầm cành sen: tượng trưng
Thiền Tông, dựa theo tích
“Phật đưa cành sen lên, Ca-diếp mỉm cười”.
-
Vòng tròn màu vàng trên nền một
hình vuông đen biểu trưng cho mặt trăng tuệ giác thường chiếu trong
màn đêm vô minh và cũng nói lên ước mong Phật sự này sẽ
được vuông tròn (giống như hai bồn trồng bông vuông và tròn mà
Hòa thượng Viện trưởng đã cho xây trước thất Ngài ở Thiền
viện Trúc Lâm, nói lên sở nguyện Hòa thượng là làm việc gì
cũng muốn vuông tròn).
-
Chữ
“Thường Chiếu”: được
Hòa thượng Viện trưởng chọn với hai lý do:
- Ý nghĩa.
- Lịch sử truyền bá nhà Thiền.
a. Ý nghĩa:
Chữ Thường nghĩa là luôn luôn, mãi mãi. Còn Chiếu
là soi sáng. Thường Chiếu có nghĩa là soi sáng mãi mãi không dừng.
Đạo Phật là đạo giác ngộ vì Phật là giác, đạo
là con đường hay phương pháp: một phương pháp đưa mình đến giác
ngộ. Chuyển hóa những gì đen tối nơi mình thành sáng suốt giác
ngộ. Muốn được như thế phải luôn luôn soi sáng lại chính mình,
đó là điều thiết yếu.
b. Lịch sử:
Thiền sư Thường Chiếu là một vị Thiền sư nổi tiếng
đời Lý (?-1203), là người đã dung hợp được ba tông phái
thiền ở Việt Nam (Tỳ-ni-đa-lưu-chi, Vô Ngôn Thông, Thảo Đường)
về một khối và là một người gan dạ, dám nhìn thẳng vào sự
thật, dùng trí tuệ soi xét khi phán đoán.
-
Hình nước Việt Nam trên bản đồ
thế giới vẽ trên ba cánh sen tỏa ra ba phía nói lên ước mong Thiền
Tông Việt Nam qua sự giảng dạy của Thiền sư Thích Thanh Từ sẽ
được truyền bá trên thế giới qua mạng lưới tin học quốc tế
(Internet).
-
Ba cánh sen: biểu trưng cho:
-
Ba ngôi Tam Bảo: Phật, Pháp, Tăng.
-
Pháp môn của Hòa
thượng Viện trưởng được kết hợp từ ba cái mốc quan trọng trong dòng
lịch sử truyền thừa Thiền Tông từ Trung Hoa đến Việt Nam, đó là: Tổ
Huệ Khả, Tổ Huệ Năng và Sơ Tổ phái Trúc Lâm: vua Trần Nhân Tông.
-
Ba vị Tổ đầu của dòng Thiền Trúc Lâm Yên Tử:
vua Trần Nhân Tông, Pháp Loa và Huyền Quang (dựa theo một bài kệ của
Tổ Bồ-đề-đạt-ma có câu: Nhất hoa khai ngũ diệp, còn ở
đây là: Nhất hoa khai tam diệp).
|