|
Sơ tổ phái Trúc Lâm |
TRẦN NHÂN TÔNG |
|
THI PHÚ HÁN NÔM 3 |
|
|
CƯ TRẦN LẠC ĐẠO PHÚ (Phú Ở Cõi Trần Vui Đạo) HỘI THỨ NHẤT Mình ngồi thành thị; Nết dùng sơn lâm. Muôn nghiệp lặng an nhàn Thể tánh; Nửa ngày rồi tự tại thân tâm. Tham ái nguồn dừng, chẳng còn nhớ châu yêu ngọc quí; Thị phi tiếng lặng, được dầu nghe yến thốt oanh ngâm. Chơi nước biếc, ẩn non xanh, nhân gian có nhiều người đắc ý; Biết đào hồng, hay liễu lục, thiên hạ năng mấy chủ tri âm. Nguyệt bạc vừng xanh, soi mọi chỗ thiền hà lai láng; Liễu mềm hoa tốt, ngất quần sanh tuệ nhật sâm lâm. Lo hoán cốt, ước phi thăng, đan thần mới phục; Nhắm trường sanh, về thượng giới, thuốc thỏ còn đâm. Sách dịch xem chơi, yêu tánh sáng yêu hơn châu báu; Kinh nhàn đọc dấu, trọng lòng rồi trọng nữa hoàng kim. HỘI THỨ HAI Biết vậy! Miễn được lòng rồi; Chẳng còn phép khác. Gìn tánh sáng tánh mới hầu an; Nén niềm vọng, niềm dừng chẳng thác. Dứt trừ nhân ngã thì ra tướng thật kim cang; Dừng hết tham sân mới lảu lòng mầu viên giác. Tịnh độ là lòng trong sạch, chớ còn ngờ hỏi đến Tây phương; Di-đà là tánh sáng soi, mựa phải nhọc tìm về Cực Lạc. Xét thân tâm, rèn tánh thức, há rằng mong quả báo phô khoe; Cầm giới hạnh, địch vô thường, nào có sá cầu danh bán chác. Ăn rau ăn trái, nghiệp miệng chẳng hiềm thửa đắng cay; Vận giấy vận sồi, thân căn có ngại chi đen bạc. Nhược chỉn vui bề đạo đức, nửa gian lều quí nữa thiên cung; Dầu hay mến thửa nhân nghì, ba phiến ngói u hơn lầu gác. HỘI THỨ BA Nếu mà cốc, Tội ắt đã không; Phép học lại thông. Gìn tánh sáng, mựa lạc tà đạo; Sửa mình học, cho phải chánh tông. Chỉn Bụt là lòng, xá ướm hỏi đòi cơ Mã Tổ; Vong tài đối sắc, ắt tìm cho phải thói Bàng công. Áng tư tài tánh sáng chẳng tham, há vì ở Cánh Diều Yên Tử; Răn thanh sắc niềm dừng chẳng chuyển, lọ chi ngồi am Sạn non Đông. Trần tục mà nên, phúc ấy càng yêu hết tấc; Sơn lâm chẳng cốc, họa kia thực cả đồ công. Nguyền mong thân cận minh sư, quả bồ-đề một đêm mà chín; Phúc gặp tình cờ tri thức, hoa ưu-đàm mấy kiếp đơm bông. HỘI THỨ TƯ Tin xem; Miễn cốc một lòng; Thì rồi mọi hoặc. Chuyển tam độc mới chứng tam thân; Đoạn lục căn nên trừ lục tặc. Tìm đường hoán cốt, chỉn xá năng phục dược luyện đan; Hỏi phép chân không, hề chi lánh ngại thanh chấp sắc. Biết Chân như, tin Bát-nhã, chớ còn tìm Phật Tổ Tây Đông; Chứng thật tướng, ngỏ vô vi, nào nhọc hỏi kinh thiền Nam Bắc. Xem Tam tạng giáo, ắt học đòi Thiền uyển thanh qui; Đốt ngũ phần hương, chẳng tốn đến chiên-đàn chiêm-bặc. Tích nhân nghì, tu đạo đức, ai hay này chẳng Thích-ca; Cầm giới hạnh, đoạn ghen tham, chỉn thật ấy là Di-lặc. HỘI THỨ NĂM Vậy mới hay! Bụt ở cong nhà; Chẳng phải tìm xa. Nhân khuây bản nên ta tìm Bụt; Đến cốc hay chỉn Bụt là ta. Thiền ngỏ năm câu, nằm nhãng cong quê Hà hữu; Kinh xem ba bận, ngồi ngơi mái quốc Tân La. Trong đạo nghĩa, khoảng cơ quan, đà lọt lẫn trường Kinh cửa Tổ; Lánh thị phi, ghê thanh sắc, ngại chơi bời dặm liễu đường hoa. Đức Bụt từ bi, mong nhiều kiếp nguyền cho thân cận; Ơn Nghiêu khoáng cả, lọt toàn thân phô việc đã tha. Áo miễn chăn đầm ấm qua mùa, hoặc chằm hoặc xể; Cơm cùng cháo đói no đòi bữa, dầu bạc dầu thoa. Ngăn bát thức, nén bát phong, càng đè càng bội; Lẫy tam huyền, nong tam yếu, một cắt một ma. Cầm vốn thiếu huyền, xá đàn dấu xoang vô sanh khúc; Địch chăng có lỗ, cũng bấm chơi xướng thái bình ca. Lẫy cội tìm cành, còn khá tiếc Câu Chi trưởng lão; Quay đầu chấp bóng, ắt kham cười Diễn-nhã-đạt-đa. Lọt quyện kim cương, há mặt hầu thông nên nóng; Nuốt bồng lật cức, nào tay phải xước tượng da. HỘI THỨ SÁU Thật thế! Hãy xá vô tâm; Tự nhiên hợp đạo. Dừng tam nghiệp mới lặng thân tâm; Đạt một lòng thì thông Tổ giáo. Nhận văn giải nghĩa, lạc lài nên Thiền khách bơ vơ; Chứng lý tri cơ, cứng cáp phải nạp tăng khôn khéo. Han hữu lậu, han vô lậu, bảo cho hay: the lọt, duộc thưng; Hỏi Đại thừa, hỏi Tiểu thừa, thưa thẳng tắt: lòi tiền, tơ gáo. Nhận biết làu làu lòng vốn, chẳng ngại bề thời tiết nhân duyên; Chùi cho vặc vặc tánh gương, nào có nhuốm căn trần huyên náo. Vàng chưa hết quặng, xá tua chín phen đúc chín phen rèn; Lộc chẳng còn tham, miễn được một thì chay một thì cháo. Sạch giới lòng, chùi giới tướng, nội ngoại nên Bồ-tát trang nghiêm; Ngay thờ chúa, thảo thờ cha, đi đỗ mới trượng phu trung hiếu. Tham thiền kén bạn, nát thân mình mới khá hồi ân; Học đạo thờ thầy, dọt xương óc chưa thông của báo. HỘI THỨ BẢY Vậy mới hay; Phép Bụt trọng thay; Rèn mới cốc hay. Vô minh hết bồ-đề thêm sáng; Phiền não rồi đạo đức càng say. Xem phỏng lòng kinh, lời Bụt thốt dễ cho thấy dấu; Học đòi cơ tổ, sá thiền không khôn chút biết nay (nơi). Cùng căn bản, rủa trần duyên mựa để mấy hào ly đương mặt; Ngã thắng chàng, viên tri kiến, chớ cho còn họa trữ cong tay. Buông lửa giác ngộ, đốt hoại thảy rừng tà ngày trước; Cầm kiếm trí tuệ, quét cho không tánh thức thuở nay. Vâng ơn thánh, xót mẹ cha, thờ thầy học đạo; Mến đức Cồ, kiêng bùi ngọt, cầm giới ăn chay. Cảm đức từ bi, để nhiều kiếp nguyền cho thân cận; Đội ơn cứu độ, nát muôn thân thà chịu đắng cay. Nghĩa hãy nhớ, đạo chẳng quên, hương hoa cúng xem còn nên thảo; Miệng rằng tin, lòng lại lỗi, vàng ngọc thờ cũng chửa hết ngay. HỘI THỨ TÁM Chưng ấy: Chỉn xá tua rèn; Chớ nên tuyệt học. Lay ý thức chớ chấp chằng chằng; Nén niềm vọng mựa còn xóc xóc. Công danh mảng đắm, ấy toàn là những đứa ngây thơ; Phúc tuệ gồm no, chỉn mới khá nên người thực cốc. Dựng cầu đò, giồi chiền tháp, ngoại trang nghiêm sự tướng hãy tu; Săn hỉ xả, nhuyễn từ bi, nội tự tại kinh lòng hằng đọc. Rèn lòng làm Bụt, chỉn xá tua một sức dùi mài; Đãi cát kén vàng, còn lại phải nhiều phen lựa lọc. Xem kinh đọc lục, làm cho bằng thửa thấy thửa hay; Trọng Bụt tu thân, dùng mựa lỗi một tơ một tóc. Cùng nơi ngôn cú, chỉn chăng hề một phút ngại lo; Rất thửa cơ quan, mựa còn để tám hơi lọt lọc. HỘI THỨ CHÍN Vậy cho hay: Cơ quan Tổ giáo; Tuy khác nhiều đàng, Chẳng cách mấy gang. Chỉn xá nói từ sau Mã Tổ; Ắt đã quên thuở trước Tiêu hoàng. Công đức toàn vô, tánh chấp si càng thêm lỗi; Khuếch nhiên bất thức, tai ngu mảng ắt còn vang. Sanh Thiên Trúc, chết Thiếu Lâm, chôn dối chân non Hùng Nhĩ; Thân bồ-đề, lòng minh kính, bài giơ mặt vách hành lang. Vương lão chém mèo, lạt trẩy lòng ngừa Thủ tọa; Thầy Hồ khua chó, trỏ xem trí nhẹ con giàng. Chợ Lư Lăng gạo mắc quá ư, chẳng cho mà cả; Sở Thạch Đầu đá trơn hết tấc, khôn đến thưa đang. Phá Táo cất cờ, đạp xuống dấu thiêng thần miếu; Câu Chi day ngón, dùng đòi nếp cũ ông ang. Lưỡi gươm Lâm Tế, nạng Bí Ma, trước nạp tăng no dầu tự tại; Sư tử ông Đoan, trâu thầy Hựu, răn đàn việt hượm xá nghênh ngang. Đưa phiến tử, cất trúc bề, nghiệm kẻ học cơ quan nhẹ nhẵn; Xô hòn cầu, cầm mộc thược, bạn thiền hòa chước móc khoe khoang. Thuyền tử rà chèo, dòng xanh chửa cho tịn tẩy; Đạo Ngô múa hốt, càn ma dường thấy quái quàng. Rồng Yển lão nuốt càn khôn, ta xem chỉn lệ; Rắn ông Tồn ngang thế giới người thấy ắt giang (giương). Cây bách là lòng, thác ra trước phải phương Thái bạch; Bính đinh thuộc hỏa, lại trở sau lỗi hướng Thiên cang. Trà Triệu lão, bánh Thiều Dương, bầy thiền tử hãy còn đói khát; Ruộng Tào Khê, vườn Thiếu Thất, chúng nạp tăng những để lưu hoang. Gieo bó củi, nẩy bông đèn, nhân mang mới nát; Lộc đào hoa, nghe tiếng trúc, mặc vẻ mà sang. HỘI THỨ MƯỜI Tượng chúng ấy, Cốc một chân không; Dùng đòi căn khí. Nhân lòng ta vướng chấp khôn thông; Há cơ tổ nay còn thửa bí. Chúng Tiểu thừa cốc hay chửa đến, Bụt xá ngăn Bảo sở Hóa thành; Đấng Thượng sĩ chứng thực mà nên, ai ghẽ có sơn lâm thành thị. Núi hoang rừng quạnh, ấy là nơi dật sĩ tiêu dao; Chiền vắng am thanh, chỉn thực cảnh đạo nhân du hí. Ngựa cao tán cả, Diêm vương nào kể đứa nghênh ngang; Gác ngọc lầu vàng, ngục tốt thiếu chi người yêu quí. Chuộng công danh, lồng nhân ngã, thực ấy phàm ngu; Say đạo đức, dời thân tâm, định nên thánh trí. Mày ngang mũi dọc, tướng tuy lạ xem ắt bẵng nhau; Mặt Thánh lòng phàm, thật cách nhẫn vàn vàn thiên lý. Kệ rằng:
Cư trần lạc đạo thả tùy duyên, Dịch thơ:
Ở trần vui đạo hãy tùy duyên, |
|
|
[3] [4] [5] [6] [7] [8] [9] [10] [11] [12] [13] [14] [15] [16] [17] [18] [19] [20] [21] |
|