|
Bích Nham Lục do Thiền sư Viên Ngộ đời Tống trước tác,
nguồn gốc của nó xuất phát từ Thiền sư Tuyết Đậu. Tuyết Đậu chọn lựa
trong Nội điển, Ngoại điển và Văn sử một trăm tắc công án, dùng âm vận
tụng ra chỗ sâu kín của Thiền, làm tư lương cho những người tham học
trong các tòng lâm, gọi là Tuyết Đậu Tụng Cổ. Thiền sư biện tài vô ngại,
là nhà văn hào một thời, đủ chánh nhãn siêu cách, thật là một cao tăng
xưa nay ít thấy. Những lời tụng này, nhiều khách giang hồ truyền nhau,
khen là một tuyệt tác trong thiên hạ. Song lời gọn ý sâu, chẳng khác núi
bạc, vách sắt. Thiền khách khó nhọc nghiên tầm phân tích, như con muỗi
cắn trâu sắt, không có chỗ cắm mỏ. Sau khi Tuyết Đậu tịch hơn sáu mươi
năm, khoảng niên hiệu Chánh Hòa (1111-1114) đời Tống Huy Tông, Thiền sư
Viên Ngộ lúc ở viện Linh Tuyền, Giáp Sơn, Lễ Châu, vì học giả đem một
trăm tắc tụng cổ này mỗi mỗi chú thích. Ở đầu mỗi tắc là Thùy thị (lời
dẫn), kế Công án (bản tắc), sau câu tụng cổ mỗi chỗ phụ Trước ngữ, tiếp
Bình xướng. Sự chọn lọc chỗ uyên nguyên, chia chẻ thâm lý, phát huy
huyền vi, tuyên bố phát dương tông chỉ truyền riêng, chỉ thẳng rất khéo,
rất tột.
Về sau, khoảng niên hiệu Kiến Viêm (1127-1130) đời
Tống Cao Tông, đồ đệ của Sư là Phổ Chiếu… biên chép lại để tên là Bích
Nham Lục, bởi vì tấm bảng trên ngạch trượng thất tại viện Linh Tuyền đề
là Bích Nham. Thiền sư Viên Ngộ biện tài siêu xuất, văn chương tuyệt vời
nên tên Bích Nham đã làm dư luận chấn động một thời. Song sau khi Thiền
sư tịch, đệ tử chỉ nhớ tụng ngôn cú trong sách làm nhu yếu biện luận tri
giải, phản lại bản nghĩa “giáo ngoại biệt truyền, bất lập văn tự”. Thiền
sư Đại Huệ Tông Cảo là đệ tử nối pháp Viên Ngộ, thấy tệ ấy buồn than,
bèn mang bản gỗ chất trước sân chùa cho một mũi lửa thiêu sạch, dứt lưu
truyền ngang đây. Ngót hai trăm năm sau, trong tòng lâm ít ai thấy được
quyển sách này.
Khoảng niên hiệu Đại Đức (1297-1307) vua Thành Tông
nhà Nguyên, ở Ngung Trung, cư sĩ Trương Minh Viễn (tên Vĩ) góp nhặt các
bản còn cất giữ mọi nơi, tham giảo bổ túc qua lại cho khắc bản, phụ bản
có cư sĩ Vạn Lý, Hưu Hưu, Tam giáo Lão nhân, mỗi người viết tựa, ở sau
Phương Hồi Tịnh Nhật, Hi Lăng mỗi người viết lời bạt. Quyển sách này lại
được ra mắt độc giả, đáng gọi là quyển sách bậc nhất trong tông môn.
Thiền khách khắp nơi quí trọng, thích đọc, lưu truyền sâu rộng cho đến
ngày nay.
Bích Nham Lục nguyên tác của Thiền sư Tuyết Đậu, cháu
đời thứ tư trong tông Vân Môn, đệ tử truyền pháp của Thiền sư Trí Môn.
Sư tục danh là Lý Trùng Hiển, tự là Ẩn Chi, sanh năm thứ năm niên hiệu
Thái Bình Hưng Quốc nhà Tống, tại Toại Châu. Khoảng niên hiệu Hàm Bình
(998-1003), cha mẹ mất hết, Sư vào viện Phổ An xuất gia với hóa chủ Nhân
Săn. Sau khi thọ giới cụ túc, Sư tham học khắp các kinh luận. Kế xả giáo
môn, Sư đi tham vấn Thiền sư Thông ở Thạch Môn Nhượng Dương, ở lại ba
năm mà cơ duyên chẳng hợp. Sư đến tham vấn Thiền sư Tộ ở Trí Môn Tùy
Châu, liền được thừa kế pháp ở đây. Sư sang đạo tràng của Thiền sư Lâm ở
Lô Châu, lại đến chùa Cảnh Đức Trì Châu nhận chức Thủ tọa. Sau Sư dạo
Hàng Châu, trụ tại chùa Thúy Phong ở Động Đình Tô Châu, rồi dời sang
Minh Châu ở chùa Tư Thánh núi Tuyết Đậu. Núi Tuyết Đậu là đạo tràng của
Thiền sư Trí Giác, Sư ở đây ba mươi mốt năm, học giả khắp nơi đua nhau
nhóm họp dưới tòa. Thiên Y Nghĩa Hoài, Xưng Tâm Tỉnh Tông… hơn bốn mươi
người, hàng long tượng xuất hiện, quả là thời tông Vân Môn trung hưng
vậy. Thị trung Cổ Công tâu về triều, vua ban hiệu Sư là Minh Giác Đại
Sư. Niên hiệu Hoàng Hựu năm thứ tư ngày mùng mười tháng sáu, Sư thị tịch
thọ bảy mươi ba tuổi, năm mươi tuổi hạ. Những sách do Sư trước tác có:
Bách Tắc Tụng Cổ, Bộc Tuyền Tập, Tổ Anh Tập, Khai Đường Lục, Thập Di…
lưu hành ở đời.
Tác giả Bích Nham Lục là Thiền sư Viên Ngộ ở Giáp Sơn,
cháu đời thứ mười tông Lâm Tế, tên Khắc Cần, tự Vô Trước, con nhà họ Lạc
ở huyện Sùng Ninh, Bành Châu. Gia thế chuyên nghiệp Nho, thuở nhỏ Sư nhớ
giỏi, một ngày học thuộc cả ngàn lời. Sư dạo chùa Diệu Tịch thấy sách
Phật có cảm khái, liền xin xuất gia. Sư theo Pháp sư Văn Chiếu nghe
giảng, đến Tọa chủ Mẫn Hành học kinh Lăng Nghiêm. Sang tham thiền, đến
Thiền sư Hạo ở Ngọc Tuyền, Thiền sư Tín ở Kim Loan, Thiền sư Hiệt ở Đại
Qui, Thiền sư Tử Tâm ở Hoàng Long, Thiền sư Độ ở Đông Lâm, các nơi đều
cho là pháp khí. Thiền sư Hối Đường ở Hoàng Long đặc biệt khen “ngày sau
phái Lâm Tế sẽ y nơi ông mà hưng thạnh”.
Rốt sau, Sư đến Kỳ Châu tham vấn Thiền sư Pháp Diễn ở
núi Ngũ Tổ, liền được kế thừa dòng pháp ở đây. Niên hiệu Chánh Hòa năm
đầu (1111), Sư nhận lời thỉnh của Trương Vô Tận đến trụ trì viện Lễ
Tuyền tại Giáp Sơn, bình xướng Bách Tắc Tụng Cổ của Tuyết Đậu, phát huy
huyền vi, thật ở lúc này. Khoảng niên hiệu Sùng Ninh, Sư dời đến Đạo Lâm
phủ An Sa, Khu mật Đặng Công Tử Thường tâu về triều, vua ban tử y và
hiệu Phật Quả. Vua Huy Tông triệu Sư trụ trì Kim Long Tương Sơn, học giả
tấp nập kéo đến, khiến môn phong chấn thế. Vua lại sắc Sư trụ trì Thiên
Ninh Vạn Thọ, niên hiệu Kiến Viêm năm đầu (1127) dời trụ Kim Sơn ở Trấn
Giang. Gặp lúc vua Cao Tông đi dạo Dương Châu mời Sư vào cung đối đáp,
Vua ban hiệu là Viên Ngộ Thiền Sư. Kế Sư dời đến Vân Cư Giang Tây trụ
trì chùa Chiếu Giác. Tháng tám niên hiệu Thiệu Hưng thứ năm (1135), Sư
có chút ít bệnh rồi tịch, Vua sắc thụy là Chân Giác. Phần trước tác của
Sư có: Bích Nham Lục, Ngữ Lục hai mươi quyển, Viên Ngộ Tâm Yếu hai quyển,
Kích Tiết Lục ba quyển. Nối pháp Sư có Đại Huệ Tông Cảo, Hổ Khưu Thiệu
Long… hơn hai mươi vị, gọi là trung hưng tông Lâm Tế. |